Tin 24h :

ĐỊA ỐC VIỆT NAM

ĐỊA ỐC VIỆT NAM
Hiển thị các bài đăng có nhãn GOCKINHDOANH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GOCKINHDOANH. Hiển thị tất cả bài đăng

Sacombank, Vietinbank, Vietcombank được mở thêm phòng giao dịch



Sacombank, Vietinbank, Vietcombank được mở thêm phòng giao dịch

Sacombank và Vietinbank mỗi ngân hàng được mở thêm 2 phòng giao dịch trong khi Vietcombank được mở thêm 5 phòng giao dịch.

Ngày 22/10/2013, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã có các công văn số 7802, 7804, 7806/NHNN-TTGSNH thông báo ý kiến về việc mở phòng giao dịch của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank) và Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank).
Theo các văn bản này,Vietcombank được chấp thuận về chủ trương mở 5 phòng giao dịch tại địa bàn các tỉnh, thành phố: Bình Dương, Đồng Nai, Hải Dương (2 phòng giao dịch) và Quảng Nam.
Vietinbankđược chấp thuận về chủ trương mở 2 phòng giao dịch tại địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Sacombank được chấp thuận về chủ trương mở 2 phòng giao dịch tại địa bàn tỉnh Kon Tum.
Cũng tại các văn bản này, Thống đốc NHNN giao Giám đốc NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố tại các địa bàn trên xem xét, xác nhận việc mở phòng giao dịch của các ngân hàng này trên cơ sở các ngân hàng đó đáp ứng quy định về thủ tục, hồ sơ và điều kiện theo Quyết định số 13/2008/QĐ-NHNN ngày 28/4/2008 của Thống đốc NHNN và các quy định khác có liên quan.
Ngoài chỉ đạo trên, Thống đốc NHNN giao Giám đốc NHNN chi nhánh tỉnh Lạng Sơn xem xét, xác nhận mở phòng giao dịch của Vietinbank trên cơ sở địa bàn đề nghị mở phòng giao dịch của Vietinbank là địa bàn nông nghiệp, nông thôn và tại địa bàn (quận, huyện, thị xã) đề nghị mở phòng giao dịch, Vietinbank chưa có phòng giao dịch.
T.H
Theo Trí Thức Trẻ

Khoáng sản Fecon lỗ quý 3


Khoáng sản Fecon lỗ quý 3

Nguồn thu từ mảng khoáng sản chưa thể hiện trong báo cáo là do các thủ tục đầu tư khai thác mỏ chưa hoàn thiện nên việc khai thác và cung cấp ra thị trường chưa thể diễn ra theo kế hoạch.

Lên sàn từ hồi tháng 5 (quý 2/2013), Công ty cổ phần Khoáng sản FECON (FCM) tạo ra tiếng vang khá tốt khi giá đóng cửa phiên giao dịch đầu tiên đạt 19.200 đồng/CP. Thời điểm sau lên sàn, FCM báo lãi 6 tháng đầu năm đạt gần 22 tỷ đồng và là một trong số những doanh nghiệp khoáng sản có mức sinh lời khá tốt thời điểm đó.

Báo cáo tài chính quý 3 lại đưa ra một bức tranh tối màu hơn với FCM. Doanh thu thuần chỉ bằng 2/3 cùng kỳ, đạt gần 23 tỷ đồng. Lãi gộp không đủ trang trải chi phí lãi vay, bán hàng...

Khoáng sản Fecon báo lỗ 5,28 tỷ đồng sau thuế quý 3 và kéo khoản lãi 9 tháng đầu năm còn 16,4 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức lỗ 166 triệu đồng cùng kỳ.
FCM cho biết, sự sụt giảm lợi nhuận trong kỳ là do một số chủ đầu tư, khách hàng thay đổi nhân sự và quy trình nên việc nghiệm thu, thanh quyết toán chưa hoàn thiện dẫn đến chưa ghi nhận trong doanh thu, lợi nhuận.
Ngoài ra, do thời tiết mưa nhiều ảnh hưởng đến việc thi công cọc nên sản lượng cung cấp cọc giảm và chậm lại.
Công ty cũng cho biết thêm, nguồn thu từ mảng khoáng sản chưa thể hiện trong báo cáo là do các thủ tục đầu tư khai thác mỏ chưa hoàn thiện nên việc khai thác và cung cấp ra thị trường chưa thể diễn ra theo kế hoạch.
Báo cáo tài chính quý 3/3013
Nguyễn Thanh

Theo Trí Thức Trẻ/HSX

Cần 'xé nhỏ' Tập đoàn Petrolimex

Có nghĩa cần "chẻ" Petrolimex ra làm vài DN có thị phần như nhau, đừng để một Petrolimex với thị phần xăng dầu chiếm tới 50-60% như vậy.

Nội dung nổi bật:

- Luật sư Trần Hữu Huỳnh, Trưởng Phòng Pháp chế - Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho rằng nên chia Petrolimex thành nhiều doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu độc lập có thị phần tương đương nhau để tăng sức cạnh tranh.



Nếu Petrolimex tăng hay giảm giá thì các DN xăng dầu khác không thể không theo vì thị phần của họ quá lớn, như vậy đâu có giá thị trường với xăng dầu, thưa ông?

- Với vị trí thống lĩnh của Petrolimex thì chắc chắn khó tránh được việc giá xăng dầu sẽ vận động như vậy. Do vậy, tôi cho rằng, trước khi để cho DN quyền tự quyết giá xăng dầu thì trước hết phải phi tập trung hóa Petrolimex.

Hiện tập đoàn này quá to. Nếu chúng ta cho quyền tự quyết về giá cho DN thì quản lý của Nhà nước kiểu gì cũng không hiệu quả. Nhà nước sẽ không thể nào giám sát, kiểm tra được sự thống lĩnh của DN đã có trên thị trường. Lỗi này không phải do Nhà nước mà do sự thống lĩnh DN mà ra.

Ông có thể nói rõ hơn việc "phi tập trung hóa Petrolimex" là như thế nào không?

- Có nghĩa cần "chẻ" Petrolimex ra làm vài DN có thị phần như nhau, đừng để một Petrolimex với thị phần xăng dầu chiếm tới 50-60% như vậy. Giống như viễn thông, các ông lớn như Mobifone, Vinaphone, Viettel... mỗi DN có một thị phần ngang nhau thì lúc đó giá sẽ tự nhiên có sự cạnh tranh. 

Thị trường viễn thông đã cho thấy bài học rất rõ, giá viễn thông của VN hiện rất cạnh tranh và rẻ vô cùng, nông dân cũng có thể dùng điện thoại thoải mái.  Tôi cho thị trường xăng dầu của VN cũng hoàn toàn có thể cạnh tranh, giá lên xuống theo giá thị trường nếu chúng ta mạnh dạn cải tổ.

Vậy theo ông, để "mạnh dạn cải tổ" thì chúng ta cần phải làm gì? 

- Chúng ta chỉ cần vài DN lớn nhập khẩu với hàng trăm cửa hàng trực thuộc vài DN lớn như thế. Cứ để giá xăng dầu lên xuống theo thị trường. DN nào nhập hàng rẻ hơn thì bán rẻ hơn. Nhà nước chỉ kiểm tra, can thiệp đúng việc của Nhà nước, còn để DN tự cạnh tranh, DN nào giỏi thì sống, kém thì chết.  DN nào lỗ thì giải thể, bán hoặc sáp nhập... 

Với cơ chế như thế buộc DN phải quản lý tốt để tự cạnh tranh... Chúng ta đừng để Petrolimex gần như độc quyền về kinh doanh xăng dầu, phải “chẻ” Petrolimex ra. Ban đầu Nhà nước có thể có các chính sách hỗ trợ cho các DN nhưng sau đó sẽ để các DN tự lớn mạnh, mở rộng hoạt động và cạnh tranh.

Giá xăng dầu có thể khác nhau, cơ quan quản lý chỉ kiểm tra, giám sát việc chấp hành giá của các DN, xem có sự thông đồng, làm giá trong kinh doanh xăng dầu hay không. Làm được như vậy, thì việc ra một nghị định mới về xăng dầu sẽ đơn giản đi nhiều và ít bị tranh luận.

Xin cảm ơn ông!

Theo Nguyễn Phương
Dân Việt

“Đã kiểm soát được tình hình các ngân hàng yếu kém”

Sau hai năm thực hiện tái cơ cấu, hoạt động của các ngân hàng yếu kém đã được kiểm soát và bước đầu có chuyển biến, một khối lượng lớn nợ xấu đã được xử lý.

Ông Nguyễn Hữu Nghĩa: "Cho đến nay, các phương án tái cơ cấu ngân hàng yếu kém đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện và nguồn lực của khu vực tư nhân; Nhà nước chưa phải can thiệp bắt buộc đối với ngân hàng nào".
Trao đổi với P.V khi nhìn lại hai năm qua, kể từ khi Trung ương Đảng có quyết định tái cơ cấu nền kinh tế mà hệ thống ngân hàng là một trọng tâm, ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước khẳng định:
“Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đã và đang được triển khai theo đúng mục tiêu, định hướng và lộ trình đặt ra, theo đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt”.
Ông Nghĩa nói:
- Trước hết là khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng được cải thiện và bảo đảm; kỷ cương, kỷ luật của ngành ngân hàng từng bước được nâng cao; nguy cơ đổ vỡ hệ thống được ngăn chặn; an toàn hệ thống, tiền gửi của nhân dân và tài sản của Nhà nước được bảo đảm.
Các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém có nguy cơ đổ vỡ ở thời điểm đầu năm 2012 đã được cơ cấu lại một bước quan trọng thông qua sáp nhập, hợp nhất, mua lại hoặc có sự tham gia của nhà đầu tư mới nhằm khắc phục những yếu kém, sai phạm và tổn thất, đồng thời từng bước đưa các ngân hàng này đáp ứng các các tiêu chuẩn an toàn hoạt động.
Cho đến nay, các phương án tái cơ cấu ngân hàng yếu kém đều dựa trên nguyên tắc tự nguyện và nguồn lực của khu vực tư nhân; Nhà nước chưa phải can thiệp bắt buộc đối với ngân hàng nào.
Cùng với tái cơ cấu, mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng các tổ chức tín dụng vẫn tích cực tăng vốn điều lệ để nâng cao khả năng đối phó rủi ro; năm 2012, vốn điều lệ của toàn hệ thống đã tăng 11,29%, 8 tháng đầu năm 2013 tăng 4,02%. Nợ xấu cũng đã tăng trưởng chậm lại; các tổ chức tín dụng đã xử lý được một khối lượng lớn nợ xấu bằng dự phòng rủi ro.
Các tổ chức tín dụng đang triển khai các giải pháp tái cơ cấu về quản trị, điều hành, đặc biệt là các hệ thống quản trị rủi ro, hệ thống kiểm toán, kiểm soát nội bộ. Họ cũng đã tiến hành cơ cấu lại hoạt động kinh doanh và danh mục tài sản theo hướng thu hẹp hoặc từng bước rút lui khỏi các lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh vàng, hạn chế đầu tư tài chính, cho vay đầu tư bất động sản.
Hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng được tăng cường để hỗ trợ và giám sát quá trình thực hiện tái cơ cấu. Khuôn khổ pháp lý hoạt động ngân hàng và hệ thống quy chế an toàn được hoàn thiện một bước nhằm hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu và bảo đảm các tổ chức tín dụng phải hoạt động trên nền tảng an toàn, lành mạnh hơn.
* Đến nay Ngân hàng Nhà nước cơ bản đã xử lý gần xong nhóm các ngân hàng yếu kém. Nhưng thực tế tình hình hoạt động, tình hình tài chính của những ngân hàng đó sau tái cơ cấu có chuyển biến tích cực không?
- Các ngân hàng yếu kém được tái cơ cấu về cơ bản đã hoạt động tương đối ổn định và chuyển biến tích cực hơn so với thời điểm bắt đầu thực hiện tái cơ cấu.
Cụ thể, các tỷ lệ an toàn hoạt động, khả năng chi trả được cải thiện; huy động vốn từ dân cư tăng khá thể hiện sự tin tưởng của người dân; nợ xấu mặc dù gia tăng trong giai đoạn đầu sau tái cơ cấu nhưng đã tích cực được xử lý và có lộ trình cụ thể để thu hồi các khoản nợ này; các vi phạm về tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn, vi phạm về cấp tín dụng đang được khắc phục, xử lý; hệ thống quản trị và tổ chức bộ máy, mạng lưới đã và đang được củng cố, chấn chỉnh...
Về cơ bản, Ngân hàng Nhà nước đã kiểm soát được tình hình của các ngân hàng yếu kém thông qua các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang tiếp tục giám sát chặt chẽ việc các ngân hàng thương mại thực hiện các phương án tái cơ cấu đã được phê duyệt, đồng thời tiếp tục nhận diện các tổ chức tín dụng yếu kém qua công tác thanh tra, giám sát để có biện pháp tái cơ cấu thích hợp.
* Nhìn lại, sau hai năm đầu thực hiện tái cơ cấu, ông thấy Ngân hàng Nhà nước gặp những khó khăn và thuận lợi gì?
- Trước hết, về thuận lợi là có sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ; sự quyết tâm, linh hoạt trong điều hành và thực thi chính sách của Ngân hàng Nhà nước; sự ủng hộ, đồng thuận của các bộ, ngành, đặc biệt Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các UBND tỉnh, thành phố liên quan.
Thêm vào đó, nền tảng pháp lý ban đầu hỗ trợ cho quá trình tái cơ cấu như quy định về kiểm soát đặc biệt; sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng; xử lý ngân hàng yếu kém… bước đầu đã hình thành.
Ngoài ra, hầu hết các tổ chức tín dụng đã nhận thức được tầm quan trọng cũng như cơ hội, thách thức trong quá trình tham gia công cuộc tái cơ cấu và đã chủ động xây dựng, triển khai kế hoạch tái cơ cấu dài hạn nhằm khắc phục tồn tại, yếu kém, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh để phát triển bền vững.
Đặc biệt là dư luận xã hội ngày càng có sự đồng thuận, chia sẻ với việc triển khai tái cơ cấu của ngành ngân hàng.
Về khó khăn thì theo tôi, khuôn khổ pháp lý cho việc cơ cấu lại các tổ chức tín dụng nói chung chưa hoàn thiện.
Việc cơ cấu lại hệ thống và xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém là vấn đề hết sức phức tạp, nhạy cảm, liên quan đến quyền, nghĩa vụ, lợi ích của nhiều bên và mất nhiều thời gian với nhiều thủ tục, quy định.
Cơ chế, quy định trong lĩnh vực xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng vay không trả được nợ theo hợp đồng tín dụng hoặc vi phạm hợp đồng tín dụng... còn hết sức bất cập, tạo ra những chi phí đáng kể đối với các ngân hàng, đồng thời kéo dài thời gian thu hồi nợ, xử lý nợ xấu, làm suy giảm kỷ luật thị trường trong quan hệ vay mượn.
Ngoài ra, việc thiếu nguồn lực tài chính công để có thể hỗ trợ cho việc xử lý nợ xấu, lành mạnh hóa và nâng cao năng lực tài chính của hệ thống tổ chức tín dụng cũng là một trong những nguyên nhân làm chậm tiến trình tái cơ cấu.
Kinh tế vĩ mô và điều kiện sản xuất - kinh doanh, thị trường tài chính trong nước và quốc tế gặp nhiều khó khăn, việc huy động các nguồn vốn và tìm kiếm các nhà đầu tư có đủ năng lực tài chính, quản trị để tham gia tái cơ cấu không thuận lợi.
* Ông có nói nợ xấu đã tăng trưởng chậm lại, một khối lượng lớn nợ xấu đã được xử lý. Cụ thể như thế nào, thưa ông?
- Trong 8 tháng đầu năm 2013, nợ xấu tăng hơn 20,15% so với cuối năm 2012, còn cùng kỳ năm 2012 là 59,2%. Dư nợ tín dụng tăng vẫn còn chậm dẫn đến tỷ lệ nợ xấu nội bảng trên tổng dư nợ tín dụng tăng liên tục từ 4,08% cuối năm 2012 lên 4,64% vào tháng 8/2013.
Tốc độ tăng của nợ xấu đã chậm lại là kết quả của việc hệ thống ngân hàng đã tích cực thực hiện các giải pháp để kiềm chế nợ xấu gia tăng và xử lý nợ xấu như triển khai các giải pháp tự xử lý nợ xấu; cơ cấu lại nợ để hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận được vốn vay phục vụ sản xuất; tích cực trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu bằng dự phòng rủi ro; thu hồi nợ, xử lý tài sản bảo đảm; thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế nợ xấu phát sinh mới.
Trong năm 2012 và 8 tháng đầu năm 2013, ước tính các tổ chức tín dụng đã xử lý được khoảng 95 ngàn tỷ đồng từ nguồn dự phòng rủi ro.
* Về dài hạn, ông nói gì về triển vọng giảm nợ xấu về dưới 3% đến năm 2015?
- Nếu các giải pháp xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã xác định và các giải pháp hỗ trợ từ các bộ, ngành, địa phương được triển khai đồng bộ theo đúng tinh thần tại Quyết định số 843/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, thì mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng về mức an toàn đến năm 2015 theo tôi là khả thi.

Nguồn: VNECONOMY

Tái cấu trúc các tổ chức tín dụng: Yếu tố nước ngoài

Hàng loạt ngân hàng (NH) Việt Nam đang là đích ngắm của các nhà đầu tư nước ngoài trong nỗ lực tái cấu trúc các tổ chức tín dụng.

Cơ hội cho nhà đầu tư ngoại
Thời gian qua, các NH chủ yếu tìm đối tác nước ngoài để nâng cao năng lực tài chính và cạnh tranh. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường có khó khăn, việc đẩy mạnh đề án tái cấu trúc hệ thống NH đang được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện. Ngoài phương án tự nguyện, NHNN sẵn sàng sử dụng các biện pháp cứng rắn để xử lý các NH yếu kém.
Đây cũng chính là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn vào lĩnh vực tài chính của Việt Nam. Mặt khác, Nghị định 69 hiện đang chi phối quyền sở hữu nước ngoài tại các NH Việt Nam cũng mở ra hướng thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài.
Các nhà đầu tư nước ngoài và các chi nhánh có thể nắm hơn 30% cổ phần của các NH Việt Nam trong các trường hợp đặc biệt để tái cấu trúc các tổ chức tín dụng yếu. Đồng thời, các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài có thể được phép sở hữu lên đến 20% cổ phần một ngân hàng mà không cần phê duyệt từ Thủ tướng Chính Phủ.
Mới đây, NH lớn nhất Singapore United Oversea Bank (UOB) cho biết, có thể sẽ mua cổ phần của GPBank - một trong bốn NH phải tái cấu trúc theo yêu cầu của Chính phủ và NHNN.
Theo một nguồn tin đáng tin cậy, GPBank đang trình một số phương án tái cơ cấu lên NHNN, trong đó có phương án chọn đối tác nước ngoài là UOB. UOB cũng là đối tác chiến lược nước ngoài của SouthernBank và đang có 20% cổ phần tại đây.
Thông tin này của GPBank đã thu hút sự quan tâm của nhiều người, bởi lẽ rất có thể nhà đầu tư nước ngoài sẽ mua được lượng lớn cổ phần của GPBank nếu như nghị định mới thay thế Nghị định 69 được Chính phủ ban hành. Nhiều khả năng GPBank sẽ bán một lượng vốn rất lớn cho đối tác nước ngoài.
Trong số 9 NH phải tái cơ cấu bắt buộc, đến nay đã hoàn tất được 8, bao gồm 3 trường hợp hợp nhất (SCB - Tín Nghĩa - Đệ Nhất; PVFC - WesternBank; SHB - Habubank); 2 trường hợp bán cổ phần cho đối tác trong nước là TienPhongBank và TrustBank (trong đó TrustBank đổi tên gọi); một trường hợp khác đang tự tái cơ cấu cũng bằng nguồn lực trong nước nhưng chưa nêu rõ đối tác cụ thể đó chính là Navibank.
Gọi vốn từ Nhật Bản
Trong số các NH Việt Nam đã bán cổ phần cho đối tác chiến lược ngoại, tính đến thời điểm này thì có hơn phân nửa đã hợp tác với nhà đầu tư Nhật Bản, trong đó có Eximbank, Vietcombank, VietinBank...
Chủ tịch HĐQT Sacombank ông Phạm Hữu Phú cho biết, sở dĩ các NH có xu hướng chọn đối tác Nhật Bản làm cổ đông chiến lược là do nét tương đồng giữa văn hóa Nhật Bản và Việt Nam. Nhưng điều quan trọng hơn đó là các NH Nhật cũng thiên về chiến lược bán lẻ, phù hợp với chiến lược mà NH Việt Nam đang đặt ra.
Theo ông Phú, Sacombank đang xúc tiến lựa chọn các đối tác nước ngoài phù hợp để tăng vốn giai đoạn 2, dự kiến hoàn tất trong quý IV. HĐQT Sacombank đã xác nhận về mặt chủ trương bán cổ phần cho nhà đầu tư ngoại với đại hội đồng cổ đông tại kỳ đại hội thường niên diễn ra vào ngày 25/4 vừa qua.
Tỷ lệ cổ phần bán cho nhà đầu tư chiến lược nước ngoài lần này tối đa lên đến 20% vốn điều lệ. Tuy chưa tiết lộ thông tin về đối tác chiến lược nước ngoài, song người đứng đầu Sacombank cho hay "đối tác chiến lược nước ngoài của NH sẽ là một định chế tài chính lớn mạnh".
Khả năng khó loại trừ đó là một tập đoàn tài chính đến từ Nhật Bản. Vì trước đó không lâu, Sacombank cho biết, đã tiếp xúc với 7 nhà đầu tư nước ngoài để tìm hiểu, đàm phán chọn đối tác ngoại, trong đó có nhà đầu tư đến từ Nhật Bản rất nặng ký.
Tại kỳ họp đại hội đồng cổ đông thường niên năm nay diễn ra cuối tháng 4/2013, HĐQT HDBank cũng đã trình cổ đông thông qua kế hoạch gọi vốn từ cổ đông chiến lược nước ngoài bên cạnh sáp nhập DaiA Bank và mua lại 100% vốn của một công ty trong lĩnh vực tiêu dùng.
Bà Lê Thị Băng Tâm, Chủ tịch HĐQT HDBank, cho biết, NH đã thuê công ty tư vấn để triển khai việc tìm đối tác chiến lược nước ngoài. Đồng thời, HDBank đã tiếp xúc và làm việc với các đối tác đến từ Nhật Bản và Anh.
HDBank đang trong giai đoạn đàm phán và các đối tác đều thể hiện sự quan tâm, thiện chí về khả năng hợp tác này. Tuy nhiên, theo một nguồn tín cho hay, khả năng đối tác chiến lược nước ngoài của HDBank cũng là một tập đoàn tài chính mạnh của Nhật Bản.
Còn theo đánh giá của ông Trần Phương Bình, Tổng giám đốc DongA Bank, hiện các định chế tài chính lớn trên thế giới đang quan tâm đến việc tìm kiếm các NH Việt Nam có chiến lược phát triển và tăng trưởng tốt trong tương lai để tiến đến việc hợp tác. Trong đó, đáng chú ý là các nhà đầu tư Nhật Bản đang quan tâm nhiều đến NH trong nước.
Các định chế tài chính nước ngoài thường lựa chọn đối tác là các NH Việt Nam dựa trên các yếu tố như: NH có đủ lớn để họ tham gia, NH đó có chiến lược phát triển để có thể trở thành một NH hàng đầu hay không cũng như NH đó có quan tâm đến chiến lược phát triển dịch vụ NH bán lẻ...

TRẦN LINH

Lực hấp dẫn từ tín dụng tiêu dùng

Chiếm 5% - 6% GDP và sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ, nên tín dụng tiêu dùng (TDTD) đang được các doanh nghiệp quan tâm khai thác. Và mua bán - sáp nhập (M&A) là chiến lược được các tổ chức tài chính ưu tiên lựa chọn để gia tăng thị phần.

Xếp hàng chờ M&A
Cùng với làn sóng M&A ngân hàng, M&A của các tổ chức tài chính cũng diễn ra sôi động. Điển hình là vụ HDBank mua lại 100% vốn của Công ty Tài chính Việt Société Générale (SGVF).
Đây được xem là giao dịch đầu tiên theo phương thức mua lại tổ chức tín dụng, mở đầu cho xu hướng các định chế Việt Nam mua lại các định chế khác để hình thành các tập đoàn tài chính - ngân hàng.
Ông Lê Thành Trung, Phó tổng giám đốc HDBank, cho rằng, việc mua lại SGVF là hoạt động M&A theo xu hướng quốc tế tại Việt Nam, nằm trong chủ trương tái cấu trúc của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.
Trước HDBank, Công ty Tài chính Fullerton Financial Holdings (FFH), công ty con của Tập đoàn Temasek (Singapore) đã nâng mức sở hữu cổ phần tại Mekong Bank (MDB), một ngân hàng cho vay tiêu dùng ở đồng bằng sông Cửu Long từ 15% lên 20%.
Lĩnh vực TDTD không dừng lại ở hai thương vụ này, Tổng công ty Tài chính CP Dầu khí Việt Nam (PVFC) cũng đang hoàn tất những công đoạn cuối cùng để sáp nhập với Ngân hàng Phương Tây (WesternBank), một thương vụ được StoxPlus đánh giá là sẽ giúp PVFC đẩy mạnh dịch vụ TDTD.
Và với tên gọi mới là Ngân hàng TMCP Đại chúng Việt Nam (PVcom Bank), sau khi thành lập, PVcom Bank sẽ có vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng với 102 điểm giao dịch.
Làn sóng M&A của các công ty tài chính và ngân hàng chắc chắn sẽ dài thêm bởi TDTD đang rất tiềm năng. Theo ông Lê Thành Trung, hiện nay, tỷ trọng TDTD chỉ chiếm khoảng 5 - 6% GDP, một con số rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới.
Hiện nay, TDTD ở Thái Lan đã bằng 18% GDP, trong khi con số này tại Malaysia lên tới 42%. Do đó, không khó để nhận thấy xu hướng tăng trưởng của TDTD trong thời gian tới.
Trong khi nhiều ngân hàng trong tình trạng lỗ thì các công ty tài chính như PPF Vietnam, Prudential Vietnam... lại phát triển mạnh mẽ nhờ TDTD. Cụ thể như PPF Vietnam (thương hiệu Home Credit), đến tháng 8/2013, số lượng hợp đồng còn hiệu lực là gần 440.000, tăng đến 98% so với năm 2012, gấp 10 lần so với năm 2004.
Hiện tại, Công ty có đến 3.400 điểm bán tại tất cả các tỉnh - thành trong cả nước và mỗi ngày phải nhận và giải quyết 3.000 hồ sơ vay của khách hàng. Về số lượng khách vay, đến cuối tháng 8, PPF Vietnam có đến hơn 800.000 và dự kiến đến cuối năm nay sẽ đạt con số 1 triệu.
Chỉ còn "cá lớn" sống
Với tiềm năng thị trường lớn, nhiều nhận định cho rằng, việc mua lại SGVF sẽ giúp HDBank phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong lĩnh vực TDTD. Nhận định này cũng có cơ sở bởi trước đó, việc nâng vốn của FFH đã giúp MDB tăng trưởng 20% trong năm 2012.
Phân khúc khách hàng nhỏ như nông dân, tiêu dùng cá nhân (đặc biệt là vay mua xe gắn máy), tiểu thương kinh doanh tại các chợ và doanh nghiệp vừa và nhỏ đã trở thành khách hàng chiến lược của ngân hàng này. Tuy nhiên, điều mà mọi người quan tâm là sau thương vụ này, SGVF sẽ phát triển như thế nào?
Ông Trung cho biết, HDBank sẽ tiếp tục phát triển trên thị trường tài chính và duy trì cơ cấu nhân sự hiện tại đồng thời giữ nguyên hệ thống đối tác, khách hàng của SGVF. Nghĩa là SGVF sẽ tiếp tục phát triển dịch vụ tài chính cá nhân, cho vay trả góp như từ trước đến nay.
Khoảng 1.100 nhân viên với mạng lưới hoạt động tại 42 tỉnh - thành cùng hơn 125.000 khách hàng thông qua 300 đối tác và gần 800 điểm dịch vụ của SGVF tại các cửa hàng xe máy và điện máy sẽ tiếp tục được khai thác.
Lợi thế là vậy, nhưng theo các chuyên gia, việc giành được một phần "miếng bánh" thị trường TDTD không dễ dàng. Hiện nay, ngành này đã được rất nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước khai thác. Bên cạnh các công ty tài chính nước ngoài như SGVF, PPF Vietnam, Prudential Vietnam, các ngân hàng nhỏ và vừa như VPBank, MDB, KienLongBank, Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) và cả ngân hàng lớn như Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng tham gia TDTD.
Đó là chưa kể, tham gia lĩnh vực này, ngân hàng phải chấp nhận tỷ lệ nợ xấu cao. Nếu các ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu dao động từ 2 - 6% thì trong lĩnh vực TDTD thường ở mức hai con số. Tuy nhiên, ông Friedrich Weiss, Tổng giám đốc Công ty Tài chính PPF Vietnam, cho rằng, đối với công ty tài chính, tỷ lệ nợ xấu dưới 10% là có thể chấp nhận được.
"Trong khi nợ xấu của ngân hàng ở mức 4% đã bị lỗ thì tỷ lệ nợ xấu của chúng tôi gần 10% nhưng vẫn lãi. Cụ thể, trong năm 2012, chúng tôi lãi đến 20 triệu USD (khoảng 400 tỷ đồng)", ông Friedrich Weiss cho biết.
Ông Trung cũng thừa nhận, việc mua SGVF tạo ra cơ hội nhưng đồng thời cũng có không ít thách thức đối với HDBank. Bởi bên cạnh các tổ chức tín dụng nước ngoài dày dạn kinh nghiệm, HDBank còn phải cạnh tranh với những tổ chức tín dụng trong nước vốn am hiểu thị trường và khách hàng.
Tuy nhiên, HDBank đã chủ động tự tích lũy sự am hiểu thị trường cũng như kinh nghiệm quản lý khách hàng. "Thương vụ mua lại SGVF là một lợi thế bổ trợ, giúp HDBank tận dụng kinh nghiệm từ một tổ chức quốc tế, từ đó cải tiến, hoàn thiện quy trình quản lý, giám sát và kiểm soát hoạt động cho vay", ông Trung nói.

HỒNG NGA